Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc
Hạnh phúc là được cống hiến trọn vẹn cho lý tưởng cao đẹp
Hạnh phúc không dừng lại ở ý nghĩa thụ hưởng, mà là quá trình tạo ra giá trị cho xã hội. Với tất cả tinh thần của người chiến sĩ cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời mình là được cống hiến trọn vẹn cho hạnh phúc của dân tộc. Chính khát vọng hạnh phúc lớn lao ấy đã trở thành nguồn sức mạnh vô địch giúp Người chiến thắng muôn vàn khó khăn, gian khổ đi tìm đường cứu nước, cứu dân tộc.
Hạnh phúc của con người là lẽ sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cương vị lãnh tụ cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng và Chính phủ không ngừng phấn đấu “gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc”(1). Để thực hiện được lý tưởng cao đẹp này, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên cần phải tìm thấy ý nghĩa trong nhiệm vụ cống hiến vì hạnh phúc của quốc gia, dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng và không ngừng rèn luyện bản thân ít lòng ham muốn vật chất; với công việc, Người căn dặn “Vì hạnh phúc của dân tộc… Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng”(2).
Hạnh phúc của dân tộc Việt Nam là lý tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi trong suốt cuộc đời. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc đã được bảo chứng bằng chính cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cuộc đời thanh cao và luôn sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân “để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân”(3). Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hạnh phúc và đã mở ra kỷ nguyên hạnh phúc cho toàn thể dân tộc Việt Nam.
Hạnh phúc gắn liền độc lập, tự do
Độc lập - tự do - hạnh phúc là tiêu ngữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho nhà nước dân chủ đầu tiên ở Việt Nam. Theo đó, hạnh phúc là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do; hạnh phúc đồng thời là điều kiện cơ bản giữ vững độc lập, tự do. Đặc biệt, hạnh phúc đóng vai trò khẳng định và củng cố giá trị của độc lập, tự do. Chúng ta đấu tranh giành lại độc lập, tự do mà không được thừa hưởng hạnh phúc thì cuộc đấu tranh đó không triệt để. Trong điều kiện nền độc lập, tự do “non trẻ” phải đối mặt với hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quyết liệt chỉ đạo: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(4). Bởi lẽ, có ăn, có mặc, được học hành là thoả mãn nhu cầu sống cơ bản của con người, cho nên hạnh phúc là nhiệm vụ hàng đầu, nhằm hiện thực hóa thành quả cách mạng của dân tộc Việt Nam.
Hạnh phúc gắn với độc lập, tự do là chân lý quen thuộc trong tiến trình phát triển ở mỗi quốc gia; tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung tính cách mạng, triệt để cho hạnh phúc thực sự của dân tộc Việt Nam. Hạnh phúc không chỉ là động lực đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, mà còn góp phần cổ vũ nhân dân cần lao khắp hành tinh đứng dậy đấu tranh cho hạnh phúc của chính mình. Như lời ngợi ca của Romesh Chandra, nguyên Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(5). Như vậy, không chỉ nỗ lực đấu tranh để hiện thực hóa giá trị hạnh phúc, gắn liền độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đem lại hạnh phúc thực sự, triệt để cho nhân loại cần lao.
Hạnh phúc gắn liền công bằng, bình đẳng
Hạnh phúc gắn liền công bằng, bình đẳng là mục tiêu, lý tưởng đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi cho tất cả mọi giai tầng trong xã hội. Người khẳng định: “Việc thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người”(6). Là nhà tư tưởng tiến bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem hạnh phúc là quyền lợi chính đáng mà mọi quốc gia, dân tộc đều xứng đáng được thừa hưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến tư tưởng vĩ đại của Thomas Jefferson trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ rằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(7), Người còn “suy rộng ra” và nâng lên thành tính pháp lý về quyền của tất cả các dân tộc trong thời đại mới: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(8). Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt lên hàm ý nhấn mạnh vị thế và quyền hạnh phúc của người đàn ông da trắng - “All men” trong tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, Người xem xét hạnh phúc ở góc độ dành cho “tất thảy” con người, không có sự phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, lập trường chính trị,… Bằng trái tim yêu thương con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát và bổ sung hoàn chỉnh cho giá trị của hạnh phúc; chủ thể thụ hưởng hạnh phúc được khái quát từ dân tộc ra nhân loại, từ quốc gia đến toàn thế giới.
Để hạnh phúc là sản phẩm từ một xã hội công bằng, bình đẳng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, vì “Cách mạng Tháng Mười đã mở một kỷ nguyên mới không những cho nước Nga, mà cho cả thế giới, nó ảnh hưởng đến nội bộ biến hóa của các nước trên thế giới”(9). Đó là kỷ nguyên của chủ nghĩa cộng sản, giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Với bản chất cách mạng và triệt để, kỷ nguyên mới bảo đảm tương lai hạnh phúc và công bằng, bình đẳng cho toàn nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”(10). Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng nhận thức từ hạnh phúc con người Việt Nam đến hạnh phúc nhân loại; chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm con người có hạnh phúc trong công bằng, bình đẳng thật sự và triệt để.
Hạnh phúc là sự sẻ chia và đoàn kết
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn thắng lợi, thì mỗi người phải dựa vào lực lượng của số đông người, tức là của tập thể, của xã hội. Riêng lẻ từng cá nhân thì nhất định không thắng nổi tự nhiên, không sống còn được”(11). Phân tích sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy sự sẻ chia và đoàn kết là phương thức để con người sinh tồn, vượt qua mọi khó khăn, thử thách; cho nên, cô lập, tách biệt khỏi cộng đồng là bất hạnh lớn của mỗi cá thể. Có thế nói rằng, hạnh phúc vừa là kết quả của chia sẻ và đoàn kết; ngược lại, chia sẻ và đoàn kết là phương thức xây dựng hạnh phúc bền chặt. Như vậy, chia sẻ và đoàn kết đóng vai trò quan trọng hàng đầu, góp phần gia tăng giá trị của hạnh phúc, làm cho hạnh phúc trở thành giá trị nhân văn, cao thượng. Với ý nghĩa cao đẹp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng cổ vũ, khích lệ hạnh phúc trong sẻ chia và đoàn kết xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của dân tộc Việt Nam.
Hạnh phúc là sẻ chia và đoàn kết, ở đây không hiểu là chia nhỏ, chia đều hoặc cào bằng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự quan tâm chỉ dẫn giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hạnh phúc cá thể (hạnh phúc riêng) và hạnh phúc cộng đồng (hạnh phúc chung). Người yêu cầu mỗi con người phải tự chống lại “chủ nghĩa cá nhân” bên trong mình mà “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của Nhân dân lên trên hết, trước hết”(12) khi đó, hạnh phúc của cộng đồng được vun đắp từ nhiều cá thể hạnh phúc; một mặt, nhấn mạnh hạnh phúc chung của quốc gia, dân tộc, mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo toàn diện cho hạnh phúc chính đáng của mỗi cá nhân con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không nhầm lẫn thành “giày xéo” lên hạnh phúc cá nhân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tôn trọng mà luôn tìm mọi cách để chăm lo chu đáo, bảo đảm hạnh phúc riêng của tất cả quần chúng.
Có thế khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp biến và làm giàu truyền thống đoàn kết của dân tộc. Hạnh phúc là chia sẻ và đoàn kết, vừa mang đậm bản sắc tinh hoa văn hóa Việt Nam, vừa mang đậm chủ nghĩa nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đóng góp quan trọng vào nhận thức về hạnh phúc của nhân loại, cổ vũ nhân loại tiến bộ xây dựng thế giới tốt đẹp hơn.
Hạnh phúc là trạng thái phát triển cân bằng và bền vững
Hạnh phúc là trạng thái phát triển cân bằng và bền vững, nghĩa là nhu cầu đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người được đáp ứng cân đối, hài hoà. Về chăm lo đời sống vật chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi thực hiện “tuần lễ vàng”, “hũ gạo tình thương”, “hũ gạo kháng chiến”,... tiến tới hạnh phúc “có ăn” cho toàn dân tộc khi bước ra từ nạn đói năm 1945. Hạnh phúc trở nên cao quý và thiêng liêng hơn, khi trong mỗi bát cơm người dân ăn có hạt gạo “nhường cơm sẻ áo” của người đứng đầu - lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cổ vũ người dân tích cực tăng gia sản xuất, đồng thời thực hành tiết kiệm để được thừa hưởng hạnh phúc bền vững từ thành quả lao động do chính bản thân mình tự tạo ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn nhủ mỗi người dân rằng: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”(13). Trong điều kiện kinh tế đất nước khó khăn, chính sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng tới xây dựng xã hội Việt Nam hạnh phúc, với cơ hội đủ đầy, ấm no cho tất cả mọi người dân.
Về chăm lo đời sống tinh thần, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là nhiệm vụ thiết yếu, quan trọng không kém so với chăm lo đời sống vật chất. Từ thấu hiểu sâu sắc về con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh tôn trọng và không ngừng thỏa mãn khát vọng hạnh phúc trong sự phát triển toàn diện cả về trí lực, thể lực cho mỗi một người dân. Do vậy, nhiệm vụ trọng tâm thứ hai được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị thực hiện ngay sau khi giành được chính quyền là xóa nạn mù chữ. Thông qua phong trào “bình dân học vụ”, “đời sống mới”, cả dân tộc Việt Nam đã chiến thắng “giặc dốt”, từng bước nâng cao trình độ dân trí, không ngừng phát triển trí lực; xây dựng môi trường sống nhiều cây xanh cũng là việc cần thiết góp phần gia tăng an vui, hạnh phúc trong đời sống tinh thần. Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm chỉ đạo việc thường xuyên, liên tục trồng cây gây rừng, nhằm khôi phục, phát triển đất nước ở cả giai đoạn kháng chiến và cải tạo đất nước sau chiến tranh.
Để hạnh phúc đạt được trong trạng thái phát triển cân bằng và bền vững thì cần quan tâm bảo đảm hạnh phúc của những người yếu thế, có công với cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sĩ, đời sống của nhân dân ở những vùng bị địch bắn phá nhiều, ở những nơi mà vụ mùa vừa qua thu hoạch kém...”, “những gia đình đông con, thu nhập thấp”(14). Như vậy, từ nội dung đến đối tượng thụ hưởng hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng mở rộng ý nghĩa của hạnh phúc, gắn với trạng thái xã hội phát triển cân đối, hài hòa và bền vững.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, với đỉnh cao là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin về hạnh phúc vào điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam, đem đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc trong kỷ nguyên độc lập, thống nhất sau hàng trăm năm, hàng nghìn năm bị đô hộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc tiếp tục là “cẩm nang thần kỳ” dẫn dắt Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.